Địa chỉ: Số 5, phố Phạm Văn Bạch, phường Cầu Giấy, Hà Nội

Hiến máu: 0976990066

Đặt lịch khám theo yêu cầu: 1900969670

Các chuyên gia khuyến cáo tăng cường đảm bảo an toàn truyền máu

Hội thảo Cập nhật kiến thức y khoa diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị Truyền máu toàn quốc lần thứ III – năm 2026 diễn ra ngày 16/4/2026 tại Hà Nội đã ghi nhận các báo cáo sâu sắc về đảm bảo an toàn truyền máu.

Chủ tọa phiên hội thảo gồm có PGS.TS. Vũ Đức Bình, Phó Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu TW; PGS.TS. Nguyễn Tuấn Tùng, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai; BSCKII. Tôn Thất Minh Trí, Giám đốc Trung tâm Huyết học – Truyền máu, Bệnh viện Trung ương Huế.

Kháng thể bất thường: Những tiến bộ trong phát hiện và thách thức đối với an toàn truyền máu về mặt miễn dịch

TS.BS. Hoàng Thị Thanh Nga, Trưởng khoa Huyết thanh học nhóm máu, Viện Huyết học – Truyền máu TW đã trình bày tổng quan một cách có hệ thống về đặc điểm và ý nghĩa lâm sàng của kháng thể bất thường, cập nhật các tiến bộ trong kỹ thuật phát hiện, đồng thời phân tích những thách thức trong thực hành hiện nay.

Kháng thể bất thường là các kháng thể chống lại các kháng nguyên hồng cầu ngoài hệ ABO. Các kháng thể này không có trong huyết thanh của người bình thường, mà thường xuất hiện sau khi cơ thể tiếp xúc với kháng nguyên hồng cầu lạ thông qua truyền máu không tương hợp hoặc trong trường hợp bất đồng nhóm máu giữa mẹ và thai nhi.

TS.BS. Hoàng Thị Thanh Nga báo cáo tại hội thảo.

Báo cáo của TS. Nga đã chỉ ra cơ chế hình thành của kháng thể bất thường là quá trình miễn dịch phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: người bệnh, kháng nguyên hồng cầu, điều kiện phơi nhiễm, cơ chế điều hòa miễn dịch.

Kháng thể bất thường có ý nghĩa quan trọng trong thực hành truyền máu và sản khoa, do khả năng gây ra các biến chứng miễn dịch với mức độ từ nhẹ đến nặng. Những ảnh hưởng này không chỉ liên quan đến an toàn truyền máu mà còn tác động đến hiệu quả điều trị và tiên lượng người bệnh. Vì thế việc phát hiện kháng thể bất thường đóng vai trò then chốt trong đảm bảo an toàn truyền máu; các tiến bộ kỹ thuật giúp cải thiện phát hiện và định danh gồm huyết thanh học hiện đại và sinh học phân tử.

Báo cáo cũng nhấn mạnh còn nhiều thách thức trong thực hành bao gồm: thách thức liên quan đến đặc điểm sinh học của kháng thể, kỹ thuật xét nghiệm (độ nhạy của kỹ thuật thấp, lựa chọn sinh phẩm không phù hợp, khó khăn trong định danh kháng thể phức tạp); thách thức về hệ thống và nguồn lực (sự khác biệt về nguồn lực giữa các cơ sở y tế, hạn chế trong triển khai kỹ thuật hiện đại, thiếu ngân hàng máu hiếm và dữ liệu phenotype); thách thức trong quản lý và lưu trữ thông tin kháng thể (lưu trữ tiền sử kháng thể chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ dữ liệu và liên thông giữa các cơ sở y tế).

Hệ thống Hemovigilance chủ động: Giải pháp cấp thiết bảo đảm an toàn truyền máu

An toàn truyền máu hiện nay là vấn đề an toàn của toàn bộ hệ thống hiến máu – truyền máu, trong đó rủi ro có thể xuất hiện ở nhiều mắt xích và không ít nguy cơ nằm ở phần chìm của hệ thống. Trong bối cảnh đó, hemovigilance chủ động là hướng đi cần thiết để chuyển từ ghi nhận sự cố sang chủ động nhận diện nguy cơ, từ xử lý từng trường hợp sang cải thiện hệ thống, và từ báo cáo đơn thuần sang học từ sai sót. Thay mặt nhóm tác giả, TS.BS. Ngô Mạnh Quân, Trung tâm Huyết học – Truyền máu, Bệnh viện Bạch Mai đã báo cáo về hệ thống Hemovigilance chủ động: Giải pháp cấp thiết bảo đảm an toàn truyền máu.

Giá trị cốt lõi của việc triển khai hemovigilance chủ động ở Việt Nam không nằm ở số lượng biểu mẫu hay báo cáo được tạo ra, mà ở khả năng hình thành một cơ chế giám sát, phân tích và phản hồi đủ mạnh để nâng cao an toàn, chất lượng và hiệu quả của toàn bộ dịch vụ truyền máu.

Thay mặt nhóm tác giả, TS.BS. Ngô Mạnh Quân đã báo cáo về hệ thống Hemovigilance chủ động.

TS. Quân cũng nhấn mạnh đến tính cấp thiết triển khai hệ thống Hemovigilance chủ động ở nước ta để đảm bảo truyền máu phát triển, an toàn và bền vững. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hệ thống truyền máu hiện đại không chỉ cần đủ máu mà phải bảo đảm máu an toàn, chất lượng và được hỗ trợ bởi một hệ thống giám sát hiệu quả. WHO cũng xác định hemovigilance hiệu quả, dựa trên hệ thống dữ liệu đầy đủ và chính xác là một trong những mục tiêu chiến lược của hệ thống máu quốc gia. Bên cạnh đó, cũng có những đòi hỏi ngày càng cao về đảm bảo an toàn truyền máu với sự xuất hiện của các mầm bệnh mới nổi, tái nổi và những biến động dịch tễ có thể làm thay đổi nhanh nguy cơ an toàn máu.

Kinh nghiệm truyền máu ngoại khoa từ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Với đặc thù của một bệnh viện ngoại khoa, Trung tâm Truyền máu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức chủ yếu thực hiện phát máu trong các trường hợp cấp cứu đa chấn thương và ghép tạng. Truyền máu tối cấp trong trường hợp cấp cứu đa chấn thương là kinh nghiệm quý giá trong truyền máu ngoại khoa được nhắc đến qua báo cáo của TS.BS. Vi Quỳnh Hoa, Giám đốc Trung tâm truyền máu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

TS.BS. Vi Quỳnh Hoa chia sẻ kinh nghiệm truyền máu ngoại khoa của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

TS. Hoa nhấn mạnh đến vai trò thiết yếu của truyền máu trong ngoại khoa, đặc biệt ở cấp cứu, chấn thương nặng và ghép tạng. Trong truyền máu cấp cứu do chấn thương tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, tỷ lệ truyền máu khối lượng lớn chiếm đến 30%. Hiệu quả của truyền máu không chỉ phụ thuộc vào nguồn máu mà phụ thuộc vào quy trình đáp ứng nhanh và phối hợp liên chuyên khoa (truyền máu, gây mê hồi sức, phẫu thuật viên) trong xử trí các trường hợp cấp cứu ngoại khoa.

Đại diện Công ty Cổ phần Y tế Việt Tiến trình bày báo cáo tại hội thảo.

Đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại hội thảo.

Thảo Nguyên – Hải Yến

Ảnh: Trần Chiến

Tag :

Ý kiến


    Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

    Bài viết liên quan